trongdong
text logo

Giới thiệu một số câu đối của Gs. Vũ Khiêu

Thứ ba - 08/02/2022 22:05
LTS : Giáo sư Vũ Khiêu nổi tiếng là một người viết câu đối tài hoa. Trong di sản văn hóa mà ông để lại cho đời, có đến hàng trăm câu đối. Nhân dịp đầu xuân, tòa soạn “Truyền thống và Phát triển” xin tuyển chọn và gửi đến bạn đọc một số câu đối của giáo sư mà chúng tôi sưu tầm được trong thời gian gần đây.
thu phap dang canh khanh
Hoa mai . Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Cả cuộc đời chỉ cúi đầu trước bông hoa mai - thơ Cao Bá Quát). Tranh ĐẶNG CẢNH KHANH
Những câu đối tết tặng bạn bè

1.Tặng nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh:

Nửa mắt nhìn đời, thu cả tinh hoa trời đất lại
Bảy tuần thưởng Tết, bầy đầy cảnh sắc cổ kim chơi

(Trong câu đối có đầy đủ cả nét riêng của một nhà nhiếp ảnh, nheo mắt chụp ảnh, cảnh sắc thiên nhiên, con người, tính cách lẫn thú vui thanh cao của nhà nhiếp ảnh)

2. Tặng giáo sư Trần Văn Giàu:

Tử đệ ba ngàn, cửa tướng tưng bừng kiếm bút
Xuân thu tám chục, vườn đào rạng rõ khuê ngưu
(Câu đối nêu đầy đủ về cuộc đời cách mạng, nghiên cứu khoa học và văn hóa với biết bao bạn bè, đệ tử, học trò và những người ngưỡng mộ. Bên cạnh đó cũng nêu tính cách tao nhã của giáo sư Trần Văn Giàu)

3. Tặng giáo sư Hoàng Như Mai:

Tửu ẩm hoàng mai quân tử trúc
Thi ngâm bạch tuyết trượng phu tùng

(Giáo sư Vũ Khiêu và giáo sư Hoàng Như Mai là những người bạn tri kỷ từ lâu năm. Họ cũng là những nhà văn hóa lớn nghiên cứu nhiều về cổ văn. Trong câu đối, giáo sư Vũ Khiêu ví von bạn mình như một cây mai vàng thanh cao (Hoàng Mai, tên của giáo sư Hoàng Như Mai còn những người bạn giao lưu trong tiệc rượu như là tùng, trúc, những người trượng phu, quân tử)

4. Tặng ông Sinh Thành (cán bộ cách mạng, làm thợ sửa đồng hồ)

Bảy mươi xuân, quay ngược thời gian, từng giờ từng phút, từng khắc, từng giây, nghĩ mình chẳng thẹn
Mồng một Tết, nhìn ngang thế lộ, ai chậm, ai nhanh, ai sai, ai đúng, rót rượu cùng say

(Giáo sư Vũ Khiêu có một người bạn hoạt động cách mạng trong nội thành Hà Nội. Thủ đô giải phóng, người bạn về nhà làm thợ sửa chữa đồng hồ kiếm sống. Ngày Tết, hai ông uống rượu cùng nhau. Trong tiếng pháo nổ râm ran, cảm thấu tấm lòng khí khái của người bạn ông viết tặng bạn câu đối này, vừa nêu được nghề nghiệp chữa đồng hồ vừa nêu bật khí phách quân tử mà ông cảm phục từ bạn)

5. Tặng giáo sư Vũ Hoàng Địch
Buổi ấy thơ ngâm ngọn sóng, rượu rót lưng đèo, ngoảnh lại thành Nam văn hóa địa
Giờ đây mai nở bên song, trúc cài trước ngõ, nhìn ra Châu Á Thái Bình Dương

(Giáo sư Vũ Hoàng Địch là em ruột nhà thơ Vũ Hoàng Chương, là người bạn lâu năm của giáo sư Vũ Khiêu. Ông là một nhà thơ, nhà nghiên cứu, Viện trưởng viện nghiên cứu Châu Á Thái Bình Dương. Năm 1947, ông Địch cùng Ông Khiêu và một nhóm các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ và hoạt động nghệ thuật ở Nam Định như Trần Dần, Mai Long…được lệnh lên chiến khu Việt Bắc, tham gia hoạt động văn hóa kháng chiến. Trong đạn bom của các chiến dịch, họ đã gắn kết cùng nhau như anh em. Trong câu đối xuân tặng bạn, giáo sư Vũ Khiêu vừa nhắc lại kỷ niệm kháng chiến vừa nói vui về công việc nghiên cứu sử địa, văn hóa Thái Bình Dương của bạn)

6. Câu đối chia buồn cùng Giáo sư Trần Quốc Vượng

Chị đi đâu bát ngát Đông Tây, một cánh buồm son làn gió cuốn
Anh ở lại ngậm ngùi kim cổ, nửa bình rượu trắng ánh trăng soi.
(Câu đối được làm khi chứng kiến cảnh GS Trần Quốc Vượng uống rượu một mình sau ngày vợ mất. Bà Loan vợ giáo sư Trần là một giáo viên dạy Trung văn và Anh văn)

7. Tặng giáo sư, nhạc sĩ Trọng Bằng nhân đón xuân và nhà mới

Một mảnh tài hoa ai cũng TRỌNG
Ba gian phong nguyệt chẳng đâu BẰNG

8. Tặng vợ chồng ông Bertrand De Hartingh

Một tòa hương sắc bông LAN trắng
Muôn dặm đông tây cánh HẠC vàng

(Ông Bertrand De Hartingh khi đó là giám đốc viện Viễn Đông Bác Cổ từng đi rất nhiều nơi trên thế giới, rất am hiểu văn hóa và con người Việt Nam, lấy bà vợ người Việt tên là Lan. Câu đối ví ông như một con hạc vàng (chữ Hartingh phiên âm là Hạc) đối với chữ Lan, là hoa Lan)

9. Trước Tết, đi cắt tóc, viết tặng một người quen làm thợ cắt tóc

Xem xét tóc tơ người lớn bé
Sửa sang mày mặt khách đông tây

(Gần Tết, giáo sư Vũ Khiêu đến một hàng cắt tóc quen, thấy treo một câu đối chưa hay, ông bảo “bỏ câu này đi tôi sẽ cho ông câu khác, có thể nói đủ cả nét đẹp của cha con ông”. Câu đối trên, rõ ràng đã miêu tả đầy đủ “quyền uy” của một người bố cắt tóc và người con làm cán bộ công an)

10. Câu đối để bàn thờ vợ ngày Tết

Câu đối 1: Sáu trăm vừng nguyệt soi tình tứ Hơn vạn tờ hoa giữ nhớ thương
Câu đối 2: Nửa mảnh trăng tà soi lạnh gối Một nhành mai nhỏ thức thâu canh

(Bà Vũ Khiêu tên thật là Nguyễn Thị Quý. Ông bà lấy nhau hơn 50 năm tức 600 đêm trăng tròn. Hàng trăm bản thảo của GS Vũ Khiêu, đều do bà Quý chép. Sau khi bà mất, ông làm nhiều thơ và câu đối nhắc tới những kỷ niệm về hai ông bà. Hai câu đối trên được ông treo trên bàn thờ Bà)

Một số câu đối viếng danh nhân


11. Câu đối về cha Rồng mẹ tiên tại Đền Hùng

Nước bốn ngàn năm, nhân ái còn tuôn dòng sữa mẹ
Dân tám chục triệu, anh hùng chẳng thẹn tấm lòng cha

(Đôi câu đối này ngợi ca mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân, hiện đang được treo tại đền thờ vua Hùng. Vế đối thứ nhất ngợi ca lòng nhân ái của mẹ Âu Cơ. Vế đối thứ hai ngợi ca trí tuệ của cha. Khổng Tử đã nói: Nhân giả nhạo sơn, Trí giả nhạo thủy, nghĩa là người ở vùng núi thì chuộng nhân nghĩa, người ở vùng sông nước thì chuộng trí tuệ.

Điều này phù hợp với mẹ Âu Cơ là Tiên ở trên núi và cha Lạc Long Quân là Rồng ở vùng sông biển. Nhân ái của mẹ và trí dũng của cha đã tạo nên truyền thống yêu nước, thương người (nhân) với tinh thần mưu trí, sáng tạo (trí). Đó là bản sắc vững vàng của dân tộc Việt Nam bao gồm tình cảm mãnh liệt và rộng lớn với Tổ quốc, với đồng bào và với cả nhân loại cộng với khí phách anh hùng, kiên cường bất khuất, luôn luôn suy nghĩ và hành động đầy mưu trí và sáng tạo)


12. Câu đối tại đền thờ Ngô Quyền, làng Mộng Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây

Giương cờ hồng lạc, giành lại núi sông, thỏa chí bốn phương hào kiệt
Nổi sóng Bạch Đằng, dìm sâu quân giặc, nêu gương vạn thế anh hùng

13. Câu đối tại đền thờ Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu (Câu đối hiện treo tại Đền thờ hai vị trên lầu thành Cửa Bắc)

Trung vị quốc nghĩa vị dân, lưỡng phiến đan tâm huyết nhật nguyệt
Sinh ư Nam tử ư Bắc, thiên thu chính khí vượng sơn hà.
DỊCH NGHĨA:
Trung với nước, nghĩa với dân, hai tấm lòng son treo cao cùng mặt trời, mặt trăng.
Sinh ở phương Nam, chết tại phương Bắc, nghìn năm chính khí làm rực rỡ cả sơn hà.

14. Câu đối tại nhà lưu niệm đồng chí Tô Hiệu

Câu đối 1:
Vạn lý đào hoa nghinh quốc vận
Thiên thu hồng nhật chiếu gia thanh
Câu đối 2:
Vế đầu: Cuộc đấu tranh vượt bể băng ngàn, Kết giao tuấn kiệt, Tuyển lựa hiền tài, Trọn một đời vì Đảng vì dân - Vầng nhật nguyệt ngời soi khí phách
Vế sau: Đường Cách mạng vào tù ra tội, Kiên định tử sinh, Đạp bằng uy vũ, Trải bao độ thử vàng thử sức - Đấng anh hùng chói sáng tinh khôi

15. Viếng giáo sư Phạm Huy Thông:

Tưởng cầm kì thi họa thong dong, bỗng bát ngát Ô - giang hồn Hạng Tịch
Đang Nam Bắc Đông Tây hò hẹn, sao vội vàng tiên cảnh gót Lưu lang
(Câu đối lấy ý từ bài thơ Tiếng địch sông Ô, tác phẩm rất nổi tiếng của GS Phạm Huy Thông. Giáo sư Vũ Khiêu ví sự ra đi của GS Phạm Huy Thông cũng giống như Lưu Nguyễn nhập thiên thai vậy)

16. Viếng họa sĩ Trọng Kiệm:

Bao ngày nước chảy non cao, bàn tay ngọc, hoa bay ngọn bút.
Một buổi thu về gió lạnh, trái tim vàng, lá rụng lều tranh.
(Trọng Kiệm là một Họa sĩ rất tài danh nhưng luôn sống trong túng thiếu. Trước khi từ trần, ông vẫn sống trong một căn phòng chật chội. Chữ “lều tranh” trong câu đối không chỉ nói lên tình yêu chung thủy giữa hai vợ chồng (túp lều tranh với trái tim vàng), mà còn nói: nhà của ông chỉ là một cái lều nhỏ không đủ để đựng những tranh ông vẽ).


Nguồn tin: Tạp chí Truyền thống và Phát triển
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây