trongdong
text logo

VĂN HÓA ĐỒNG SƠN Ở LƯU VỰC SÔNG MÃ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA NỔI BẬT

Tác giả bài viết: PGS. TS. Nguyễn Khắc Sử

Chủ nhật - 24/05/2026 06:13
Những hiện vật đồng Đông Sơn đầu tiên được L. Pajot khai quật năm 1924 ở làng Đông Sơn, bên bờ sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. 
Tư liệu này được V.Goloubew - một học giả người Pháp gốc Nga công bố[1]. Khái niệm Văn hóa Đông Sơn được Heiner Geldern định danh vào năm 1934 với tên gọi là văn hóa thời đại đồng thau Vân Nam - Đông Dương- Indonesia[2].  Hiện nay, giới khảo cổ học Việt Nam sử dụng khái niệm văn hóa Đông Sơn - văn hóa khảo cổ của người Việt cổ, phân bố tập trung ở lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả miền Bắc Việt Nam, có niên đại từ thế kỷ VII trước CN đến thế kỷ II sau CN thuộc thời đại Sắt sớm và là cơ tầng của nhà nước sớm, mà theo truyền thuyết là quốc gia Văn Lang thời Hùng vương.

 Lưu vực sông Mã là nơi phát hiện di tích văn hóa Đông Sơn đầu tiên, nơi  có số lượng di tích Đông Sơn nhiều nhất, có tổ hợp di vật đặc trưng nổi trội hơn cả so với các lưu vực các sông lớn ở Việt Nam. Bài viết này tập trung làm rõ những đặc trưng cơ bản văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Mã và những giá trị lịch sử văn hóa nổi bật của các di tích này trong bối cảnh rộng hơn.
 1. Đặc trưng di tích văn hóa Đông Sơn lưu vực sông Mã
Các di tích văn hóa Đông Sơn phân bố tập trung ở 3 lưu vực các sông lớn là sông Hồng, sông Mã và sông Cả, có nguồn gốc từ các di tích Tiền Đông Sơn ở chính các lưu vực sông đó. Ngoài đặc trưng chung, mỗi nhóm di tích văn hóa Đông Sơn có một số đặc trưng riêng.
Ở lưu vực sông Mã (Thanh Hóa) đã phát hiện trên 100 di tích văn hóa Đông Sơn, gồm các loại hình: cư trú, mộ táng, di chỉ -xưởng và loại di tích phát hiện lẻ tẻ. Loại hình di tích cư trú ở lưu vực sông Mã không nhiều, tiêu biểu là di tích Phà Công (xã Vĩnh Khang, Vĩnh Lộc). Ở đó, di tích cư trú có tầng văn hóa dày trung bình 50cm, tìm thấy vết tích than tro, hố chân cột, cùng công cụ đồng như lưỡi cày, rìu xòe cân, rìu lưỡi xéo và đồ gốm màu đỏ, trang trí văn thừng.  Loại hình di tích cư trú - mộ táng có số lượng nhiều nhất, tiêu biểu là các di tích Đông Sơn, Thiệu Dương và Quỳ Chử. Địa điểm Đông Sơn là di tích cư trú và mộ táng[3] với các lớp văn hóa kế tiếp nhau (từ dưới lên). Dưới cùng là lớp văn hóa kiểu Quỳ Chử, trên là lớp văn hóa Đông Sơn với 2 mức trước Hán và giai đoạn tiếp xúc văn hóa Hán. Tại đây đã tìm thấy 168 mộ Tiền Đông Sơn, 32 mộ văn hóa Đông Sơn sớm, 52 mộ Đông Sơn trước Hán và 24 mộ Đông Sơn tiếp xúc với Hán. Trong các mộ này đã tìm thấy 133 đồ đồng, 660 đồ trang sức bằng đá, 24 đồ thủy tinh và 12 đồ sắt.
Ở khu di tích Đồng Cáo, xã Hoàng Quỳ, huyện Hoằng Hóa đã tìm thấy 12 di tích cư trú - mộ táng. Tiêu biểu là di tích Quỳ Chử. Ngoài dấu tích cư trú, ở đây còn tìm thấy 3 lớp mộ[4]. Lớp mộ sớm nhất mang đặc trưng Tiền Đông Sơn ; lớp mộ mức giữa xuất hiện đồ đồng Đông Sơn như rìu xéo, lưỡi cày cánh bướm, khuyên tai đã ngọc, bình gốm hình con tiện, bình chậu hoa, nồi, bát; lớp mộ trên cùng giống lớp giữa nhưng di hài chôn nằm thẳng và xuất hiện đồ đồng minh khí.
Các di tích mộ văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Mã có số lượng khá nhiều, tiêu biểu nhất là di tích Núi Nấp, xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn. Tại đây đã tìm thấy 49 mộ chôn nằm thẳng, có mộ rải đá dăm, hoặc chèn đá hộc. Trong đó, 45 mộ táng đơn (1 cá thể), 4 mộ chôn nhiều cá thể. Mộ táng ở Núi Nấp có 3 giai đoạn: giai đoạn sớm có 12 mộ, ít đồ chôn theo, giai đoạn giữa có 2 mộ, đồ đồng Đông Sơn chôn theo khá nhiều, và giai đoạn muộn có 21 mộ, đồ đồng chôn theo phong phú, nhưng chủ yếu là đồ minh khí[5].
Loại hình di chỉ - xưởng ở vùng lưu vực sông Mã có 5 di tích, tập trung ở xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, đó là Cồn Cấu (lớp trên) Bái Tê, Mả Chùa, Bái Khuynh và Bái Bắc[6]. Loại hình di chỉ - xưởng ở đây có một số đặc thù riêng, đó là các xưởng chuyên hóa chế tác khuyên tai bằng đá ngọc (đá jasper) ở các khâu cắt, xẻ, khoan tách lõi, mài và đánh bóng với kích thước nhỏ, tinh tế. Nét đặc thù mang tính truyền thống và cách tân ở lưu vực sông Mã ở chỗ, vào giai đoạn Tiền Đông Sơn ở đây chuyên chế tác rìu tứ giác đá basalte, nhưng sang giai đoạn văn hóa Đông Sơn đã chuyển hướng sang chuyên chế tác khuyên tai đá ngọc jasper.
2. Đặc trưng di vật văn hóa Đông Sơn lưu vực sông Mã
Tổ hợp di vật văn hóa Đông Sơn vùng sông Mã có một số đặc thù riêng khi so sánh với di vật cùng loại ở sông Hồng và sông Cả. Trước hết, đồ đồng ở đây có số lượng rất lớn với nhiểu kiểu loại, như công cụ, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt, nhạc khí, đồ trang sức và đồ nghệ thuật bằng đồng. Lưỡi cày là nông cụ quan trọng nhất ở lưu vực sông Mã, tìm thấy 82 chiếc. Trong đó, loại tiêu biểu nổi bật là lưỡi cày thân hình thoi với cánh lật đất xòe rộng và lưỡi cày hình thoi có chiều ngang hẹp hơn chiều dọc[7] (Hình 1), xẻng bai vuông (Hình 2).

Hình 1. Lưỡi cày cánh bướm

Hình 2. Xẻng đồng
Đặc trưng rìu đồng vùng sông Mã là rìu lưỡi xòe cân, rìu xéo lưỡi vồng với 107 chiếc, rìu hình lưỡi xéo có 300 chiếc với các kiểu hình hai, hình gót vuông, hình trăng khuyết hoặc hình thuyền (Hình 3-6).

Hình 3. Rìu xéo hình hia

Hình 4. Rìu xéo gót vuông

Hình 5. Rìu xéo hình trăng khuyết

Hình 6. Rìu xéo hình thuyền
Vũ khi bằng đồng tiêu biểu của ở vùng sông Mã là giáo có chuôi tra cán hoặc giáo có họng lắp cán, trong đó giáo hai cánh hơi lượn lõm và giáo thân hình lá la đặc trưng. Dao găm vùng sông Mã có các kiểu đặc trưng là dao găm cán hình chữ T, cán hình củ hành, dao có chắn tay vểnh, chắn tay thẳng và dao găm chuôi tượng người, chuôi tượng động vật. Kiếm chuôi tượng tập trung ở lưu vực sông Mã, tìm thấy ở Núi Nưa, Thái Hòa, Hiệu Hợp, Triệu Sơn, Thọ Xuân. Tấm che ngực là dụng cụ phòng vệ của các chiến binh Đông Sơn, có mặt trong các khu mộ Thiệu Dương và mộ Đông Sơn.
Đồ dùng sinh hoạt bằng đồng Đông Sơn vùng sông Mã  lớn về kích thước, đa dạng về kiểu dáng, độc đáo về trang trí, gốm các loại như thạp, thố, bình lọ, âu, chậu, nồi, ấm, bát, muôi thìa; nhóm nhạc khí như trống và chuông. Thạp đồng vùng sông Mã thu thập được 15 chiếc, tiêu biểu là thạp đồng Xuân Lập, đường kính miệng 40cm, cao 93,5cm, thân hơi khum, trang trí các băng hoa văn đặc trưng đồ đồng Đông Sơn. Riêng ở di tích Đông Sơn có 13 thố đã được sử dụng, 51 thố minh khí, đó là chưa kể nhiều thố khác tìm thấy ở Xuân Lập, Núi Sỏi và Thiệu Dương.
Trống và chuông đồng đều tìm thấy ở lưu vực sông Mã. Ngoài những trống lớn, sử dụng thờ cúng hoặc lễ hội còn có trống đồng minh khí dùng làm đồ tùy táng. Đồ tramg sức bằng đồng như vòng tay, vòng ống chân, vòng đeo cổ, khóa thắt lưng, khung chạm, xà tích, cùng tượng người, tượng động vật (cóc, chim, voi, rùa, hổ, rắn, chó, hươu, đầu trâu, cá, ốc) có mặt lẻ tẻ trong các di tích Đông Sơn vùng sông Mã.
 Đồ sắt trong văn hóa Đông Sơn còn lại không nhiều, do bị han rỉ khó nhận biết hình dáng ban đầu, gồm các loại: rìu, cuốc, thuổng, liềm, dao, đục, dùi; lao, giáo, kiếm, dao găm, hoặc nồi, cối sắt; vòng tay, vòng cổ, khuyên tai. Đồ đá trong văn hóa Đông Sơn giảm sút cả về số lượng lẫn loại hình, trừ khuyên tai  bằng đá jasper. Đồ gốm vùng sông Mã, ngoài vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi, đồ gốm gia dụng vùng sông Mã vẫn có đặc thù riêng, mà loại hình gốm Đông Sơn- Núi Nấp đại diện cho vùng sông Mã. g. Kiểu gốm Đường Cồ tiêu biểu của lưu vực sông Hồng, gốm Xuân An-Làng Vạc đại diện cho vùng sông Cả, riêng Khuyên tai ngọc jasper là đặc thù riêng cho di chỉ-xưởng vùng sông Mã[8].

3. Các giá trị di sản văn hóa Đông Sơn
Các di tích và di vật văn hóa Đông Sơn vùng sông Mã đã bổ sung cho sử liệu thành văn một số vấn đề mới, quan trọng. Trước hết, đó là nền nông nghiệp trồng lúa phát triển cao ở vùng lưu vực sông Mã. Sách Giao Châu ngoại vực ký, thế kỷ IV, được dẫn lại trong Thủy Kinh chú của Lịch Đại Nguyên thời Bắc Ngụy, có đoạn chép: “Ngày xưa, lúc Giao Chỉ chưa có quận huyện, đất đai có lạc điền, ruộng này theo thủy triều lên xuống. Dân khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là lạc dân, đặt Lạc vương, Lạc hầu làm chủ các quận, huyện”. Như vậy, ruộng lạc ở đây là ruộng trồng lúa và lúa đã có thu hoạch cao.
Sách Hậu Hán thư có đoạn chép: Năm thứ hai niên hiệu Siên Quang (năm 124) đã xuất hiện điềm tốt, là tháng 6, Cửu Chân có lúa tốt, sinh 156 gốc lúa có 768 bông. Nền nông nghiệp trồng lúa có năng xuất như vậy, chỉ có thể lý giải khi tìm thấy ở đây bộ nông cụ bằng đồng mới xuất hiện như lưỡi cày, lưỡi cuốc, cái xẻng và cả thuổng sắt nữa. Những nông cụ này tthích hợp với việc xới đất trồng lúa, làm thủy lợi dẫn nước vào ruộng. Khi lúa chín, người Đông Sơn có liềm đồng để thu hoạch, thóc gặt về được nghiền sát thành gạo qua các bàn nghiền, chày nghiền bằng đá. Gạo được nấu trong các nồi đất, gạo nếp có thể được đồ chín bằng hơi trong các chõ gốm, các di vật này đã tìm thấy ở các di tích Đông Sơn. Bên cạnh trồng lúa, người Đông Sơn ở còn trồng các loại cây ăn quả như vải, nhãn, chuối, cả trầu, cau mà sách Di vật chí, Giao Châu ký, Nam Phương thảo mộ trạng… có ghi lại. Một số gia cầm như lợn, gà, trâu đã được thuần dưỡng từ tiền Đông Sơn, đến văn hóa Đông Sơn được mở rộng hơn thuần dưỡng cả dê và voi. Tư liệu thuần hóa động vật trong văn hóa Đông Sơn cho thấy, chăn nuôi lúc này vẫn còn nhỏ lẻ, chưa bao giờ trở thành một ngành trong nông nghiệp chính, độc lập của người Việt cổ.
Nguồn tư liệu văn hóa Đông Sơn lưu vực sông Mã góp phần phác thảo bức tranh toàn cảnh đời sống vật chất và tinh thần của người Đông Sơn. Người cổ Đông Sơn có nền nông nghiệp trồng lúa nước phát triển, kết hợp với chăn nuôi gia cầm, săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công khác, trong đó có vị trí quan trọng là luyện kim, đúc đồng và chế tác kim loại đồng và sắt. Người Đông Sơn đã biết dựng nhà sàn, sống quây quần thành làng, xóm. Ở đó, các hoạt động  kéo sợi, dệt vải, may mặc quần áo. Hình ảnh người thời này trên tượng cán dao găm, trên các hình khắc trên trống đồng đã gợi ý rằng, cư dân ở đây có cuộc sống thanh bình, tương thích với môi trường tự nhiên. Đàn ông đóng khố, cởi trần; phụ nữ mặc váy, tóc được tết, đôi khi trang trí lông chim trên đầu trong ngày lễ hội, cả nam và nữ đều đeo khuyên tai, vòng tay bằng đá, vòng chân bằng đồng, thưởng thức âm nhạc qua tiếng chuông, tiếng trống trong sinh hoạt cộng đồng.
Người chết được chôn ở các khu nghĩa địa riêng, như khu mộ Núi Nấp với nhiều hình thức chôn cất khác nhau, như: mộ huyệt đất, mội nồi-vò gốm hoặc mộ thân cây khoét rỗng; chôn theo đồ tùy táng bằng đồng, bằng gốm tùy theo thân phận giàu, nghèo, thợ thủ công hay bình dân.
Các di tích văn hóa Đông Sơn lưu vực sông Mã phản ánh những đặc điểm chung của văn hóa Đông Sơn, đỉnh cao của văn minh Việt cổ, tồn tại từ thế kỷ VII trước CN đến thế kỷ II sau CN, cơ tầng của nhà nước Âu Lạc. Nhờ phát triển cao của nền nông nghiệp lúa nước và kỹ thuật luyện kim, đúc đồng, nhờ tích lũy tài sản, cư dân văn hóa Đông Sơn đã nảy sinh một số trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự từng vùng, như: Thiệu Dương-Đông Sơn (Thanh Hóa), Làng Vạc (Nghệ An), Làng Cả (Phú Thọ), đặc biệt là Cổ Loa (Hà Nội). Nhà nước có thể ra đời gắn với đỉnh cao văn minh Việt cổ, mà truyền thuyết dân gian gọi là nước Âu Lạc, người đứng đầu nhà nước ấy là An Dương Vương - Thục Phán[9].
4. Vài kết luận
Đặc trưng nổi trội của văn hóa Đông Sơn vùng lưu vực sông Mã được được thể hiện ở các loại hình di tích và di vật. Đó là thành tựu hoạt động nông nghiệp trồng lúa, chăn nuôi gia cầm, phát triển các ngành nghề thủ công như mộc, sơn, làm gốm, đặc biệt là luyện kim và chế tác kim loại.
Ngoài các đặc trưng chung, cư dân văn hóa Đông Sơn ở vùng sông Mã có một số đặc thù riêng độc đáo. Đó là việc định cư ở vùng ngã ba sông Mã - sông Chu, biến nơi đây thành một trung tâm nông nghiệp và luyện kim, chế tác kim loại ; cho ra đời các công cụ, vũ khía mang thương hiệu Đông Sơn sông Mã, đó là giáo đồng hình búp đa; dao găn chuôi hình củ hành, rìu hình dao xén hoặc hình thuyền, trang trí hình người hóa trang lông chim, hình hươu, hình cá sấu; những  lưỡi cày hình cánh bướm; thố gốm, thố đồng, đặc biệt các thố minh khí.
Những tư liệu khảo cổ văn hóa Đông Sơn vùng sông Mã đã đóng góp một mảng màu văn hóa thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Sơn Việt Nam,  cho phép nhòn nhận những biến đổi cấu trúc quá khứ, những thay đổi phong cảnh địa phương, thay đổi thành phần động - thực vật theo thời gian. Sự đa dạng văn hóa và tập tính truyền thống của người Đông Sơn trong sử dụng đất, sử dụng biển, sử dụng tài nguyên khác trong sự tương thích với môi trường vùng đồng bằng ven biển, khai thác hệ sinh thái phổ tạp, xứng đáng là một di sản văn hóa đặc sắc của nhân loại.
 
[1] Goloubew, V., 1929, L’Age du bronze an Tonkin et dans le Nord Annam, BEFEO, t. XXIX, Ha Nọi ; Goloubew, V., 1932, Excavation at Dongson, Anual bilbliography of Indian Archaeology the year 1930, Layden.
[2] Heine Geldern, R. Von, 1932, Urheinat und fruheste Wanderrungen der Austronesier, in Anthropos (27), pp. 543-619.
[3] Chử Văn Tấn, 1969, Báo cáo khai quật di chỉ Đông Sơn năm 1969-1970, Tư liệu lưu tại Viện Khảo cổ học, hồ sơ 157 ; Chử Văn Tấn, 1977.
[4]Nguyễn Việt, Diệp Đình Hoa,1979, Đào Quỳ Chử (Thanh Hóa) năm 1978, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1978, Nxb., Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 171-174.
[5] Hà Văn Phùng, Phạm Minh Huyền, 1977, Báo cáo khai quật di chỉ Núi Nấp, Tư liệu Thư viện Viện Khảo cổ học, Hà Nội.  
[6] Nguyễn Khắc Sử, 1977, Đào khảo cổ di chỉ Cồn Cấu (Thanh Hóa), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1976, tr.182-194
[7] Bảo tàng Thanh Hóa, 2021, Sưu tập cổ vật tiêu biểu Văn hóa Đông Sơn , Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, tr.53-55.
[8] Nguyễn Khắc Sử, 2024, Các di tích tiền Đông Sơn ở lưu vực sông Mã, bài trình bày tại Hội thảo Văn hóa Đông Sơn - 100 năm phát hiện, bảo tồn và phát huy giá trị, tại Thanh Hóa, tháng 8 năm 2024, tr. 27-36; Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Khắc Sử, 2014, Các di tích văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Mã và sông Lam, bài trình bày tại Hội thảo Văn hóa Đông Sơn - 100 năm phát hiện, bảo tồn và phát huy giá trị, tại Thanh Hóa, tháng 8 năm 2024, tr. 80-99.
[9] Phạm Minh Huyền, 2014, Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, trong Kỷ yếu Văn hóa Đông Sơn 90 năm phát hiện và nghiên cứu, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.71.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây